ChemTech

Congnghehoahoc.org

Cây Bạch quả (Ginkgo biloba)

– Tên khác: Ngân hạnh, Áp cước tử, Công tôn thụ.
– Tên khoa học: Ginkgo biloba L.
– Họ: Bạch quả (Ginkgoaceae)
Bộ Bạch quả có các họ: Ariba, Ginkgoaceae, Cupressaceae, Taxodiaceae, Pinaceae, Araucariaceae, Cephalotaxaceae, Podocarpaceae, Taxaceae.
Cây Bạch quả là thành viên duy nhất còn tồn tại trong họ Bạch quả.

1. Mô tả cây

Bạch quả là một cây to, cao 20 – 30 m, tán lá sum suê. Thân hình trụ, phân thành cành dài, gần như mọc vòng, trên cành có những cành nhánh ngắn, mang lá có cuống dài. Lá mọc so le, thường tụ ở một mấu, phiến lá hình quạt, gốc thuôn nhọn, mép lá phía trên tròn, nhẵn, lõm giữa chia phiến lá thành hai thùy rộng. Gân lá rất sít nhau, tỏa từ gốc lá thành hình quạt, phân nhánh theo hướng rẽ đôi, cuống lá dài hơn phiến. Bạch quả là cây đơn tính, có cây chỉ có hoa đực có cây chỉ có hoa cái. Hoa cái thụ phấn từ hoa đực để kết quả. Quả hạch, hình trứng, kích thước bằng quả mận, thịt màu vàng, có mùi bơ khét rất khó chịu.

2. Phân bố, thu hái, chế biến của cây trong tự nhiên

Bạch quả là loại cây quí từng tồn tại qua hàng trăm triệu năm từ thời tiền sử có loại khủng long cho tới ngày nay không thay đổi hình dạng. Rất dễ nhận ra cây Bạch quả vì tán lá xanh um tươi tốt. Năm 1587 sách thuốc Trung Hoa gọi nó là áp cước tử (Eleusine – coracana) cây có lá hình tam giác giống chân vịt xòe, cũng được trồng ở phố Tàu Toronto, ở các khu nhà chọc trời New- York. Cây Bạch quả là loại cây quí, không bao giờ bị nấm, ký sinh, sâu mọt hay hư mục. Ở thành phố Hiroshima khi bị bom nguyên tử, tất cả các cây đều chết tàn lụi, chỉ có Bạch quả là còn sống sót. Trong rừng núi Trung Hoa, Nhật Bản có nhiều cây sống lâu cả ngàn năm. Người ta trồng Bạch quả thành đồn điền lớn.

Pételot (1954) nói ông thấy cây Bạch quả ở Bắc Việt Nam, mọc rải rác ở một số vườn hoa và một số ngôi chùa, để làm cảnh. Nhưng thực tế qua mấy chục năm không tìm thấy cây Bạch quả ở Việt Nam. Từ năm 1995, Việt Nam đã nhập hạt Bạch quả từ Nhật Bản và Pháp về trồng ở Sapa (Lào Cai), nhưng cây sinh trưởng rất chậm. Tại các hiệu thuốc bạch quả thuộc loại ít dùng. Thường chỉ dùng quả và nhân. Gần đây y học phương Tây nghiên cứu dùng lá. Những lá Bạch quả, dùng để nghiên cứu lúc đầu nhập của Nhật Bản và Nam Triều Tiên. Lá bạch quả được dùng để chế những sản phẩm Bạch quả của Pháp được trồng và thu hái ở gần Bordeaux. Lá Bạch quả được sấy khô, đóng bao chuyển về nơi chế biến sản phẩm bạch quả.

 3. Sơ lược về thành phần hóa học của cây

+ Nhân Bạch quả chứa 5,3 %  protein, 1,5 % chất béo, 68 % tinh bột, 1,57 % tro, 6 % đường.

+ Vỏ Bạch quả chứa  ginkgolic axit, bilobol và ginnol.

+ Lá Bạch quả chứa hai loại hoạt chất: các hợp chất flavonoid và các terpen.

–         Các hợp chất flavonoid (ginkgo – flavon glucozit) là những hợp chất trong đó phần aglycon là 1 flavonol ( quercetin, kaempferol, và isorhamnetin). Phần đường là glucoza và rhamnose. Ngoài ra còn có một ít proanthocyanidin.

–         Nhóm các terpen gồm có ginkgolide (là những diterpen) và bilobalit (1 sesquiterpen) có vị đắng.

+ Ngoài hai loại chất trên, lá Bạch quả còn chứa một số axit hữu cơ như Hydroxykinurenic, kinurnic, parahydroxybenzoic, vanillic.

4. Tác dụng dược lý của cây

Hạt Bạch quả thường dùng để nấu chè, ăn giúp trí nhớ, bổ thận tráng dương, trị phế lao kết hạch, trị hen đờm suyễn, bạch đới, đái nhắt.

Lá Bạch quả làm tăng tuần hoàn động mạch ở các chi và đầu, bình thường hóa tính thấm của mao mạch trong chứng phù nề tự phát, tăng lưu lượng máu đến não, hoạt hóa sự chuyển hóa năng lượng của tế bào bằng cách gia tăng tiêu thụ glucose ở não, và bình thường hóa sự tiêu thụ oxy ở não. Do đó lá Bạch quả dùng làm thuốc giúp trí nhớ, dùng trị bệnh Alzheimer cho người lớn tuổi. Ngoài tác dụng giúp trí nhớ, lá bạch quả còn dùng làm dược thảo ngăn ngừa tác dụng lão hóa con người. [2]

Ngoài ra Bạch quả còn có những tác dụng phụ như sau: rối loạn tiêu hóa, nổi mẩn da, nhức đầu. Nếu cao từ lá Bạch quả tinh khiết thì không độc, nhưng chất axit ginkgolic vượt hơn nhiều số lượng cho phép sẽ gây độc hại. Một số thuốc có nguồn gốc thực vật, khi dùng chung với Ginkgo có thể gây nguy cơ chảy máu như các loại cây họ Bồ công anh (cây cúc tiểu bạch), tỏi, sâm và những coumarin khác.

3. Tác dụng dược lý của cây

Hạt Bạch quả thường dùng để nấu chè, ăn giúp trí nhớ, bổ thận tráng dương, trị phế lao kết hạch, trị hen đờm suyễn, bạch đới, đái nhắt.

Lá Bạch quả làm tăng tuần hoàn động mạch ở các chi và đầu, bình thường hóa tính thấm của mao mạch trong chứng phù nề tự phát, tăng lưu lượng máu đến não, hoạt hóa sự chuyển hóa năng lượng của tế bào bằng cách gia tăng tiêu thụ glucose ở não, và bình thường hóa sự tiêu thụ oxy ở não. Do đó lá Bạch quả dùng làm thuốc giúp trí nhớ, dùng trị bệnh Alzheimer cho người lớn tuổi. Ngoài tác dụng giúp trí nhớ, lá bạch quả còn dùng làm dược thảo ngăn ngừa tác dụng lão hóa con người. [2]

Ngoài ra Bạch quả còn có những tác dụng phụ như sau: rối loạn tiêu hóa, nổi mẩn da, nhức đầu. Nếu cao từ lá Bạch quả tinh khiết thì không độc, nhưng chất axit ginkgolic vượt hơn nhiều số lượng cho phép sẽ gây độc hại. Một số thuốc có nguồn gốc thực vật, khi dùng chung với Ginkgo có thể gây nguy cơ chảy máu như các loại cây họ Bồ công anh (cây cúc tiểu bạch), tỏi, sâm và những coumarin khác.

Liều cao Ginkgo làm giảm hiệu nghiệm của thuốc trị động kinh như axit valproic hay carbamazepin. Ginkgo cũng có thể có lợi khi dùng với cyclosporin vì đặc tính bảo vệ màng mô. Ginkgo có thể có hiệu nghiệm giúp trị rối loạn tình dục khi dùng chung với papaverin nếu chất này dùng riêng không cho kết quả mong muốn.

 Tác dụng trên thiểu năng tuần hoàn não và bệnh tuần hoàn ngoại biên

Cao Bạch quả qua thực nghiệm cho thấy có tác dụng bảo vệ chuột cống trắng chống lại bệnh thiếu máu cục bộ não. Tiêm truyền tĩnh mạch cao Bạch quả giúp ngăn cản sự phát triển nhồi máu não (khi tiêm mảnh vỡ cục đông máu của nó vào động mạch cảnh gốc). Ngoài ra còn có tác dụng tốt trên nhồi máu não cấp tính hoặc thiếu máu cục bộ não do nghẽn mạch. Trong điều kiện giảm lượng oxy từ không khí thở vào, động vật điều trị với cao bạch quả sẽ sống sót lâu hơn so với nhóm đối chứng, không những do tác dụng tăng lưu lượng tuần hoàn não, mà còn do làm tăng nồng độ glucose và adenosin triphosphat trong máu. Cao Bạch quả tiêm truyền tĩnh mạch còn làm tăng đường kính tiểu động mạch ở mèo, làm giảm sử dụng glucose bởi não. Nó có hiệu quả điều trị phù não gây ra bởi các chất độc hại thần kinh hoặc do chấn thương. Trong nhồi máu não gây ra bởi natri arachidonat ở chuột cống trắng, cao Bạch quả dạng uống hoặc tiêm dưới da có tác dụng ức chế một phần sự tăng nước, natri và calci, đồng thời ức chế tình trạng giảm kali trong não. Cho chuột nhắt trắng uống cao Bạch quả trong 4-8 tuần giúp tăng trí nhớ và nhận thức trong thí nghiệm phản xạ có điều kiện.

Tác dụng trên tiền đình và thính giác

Cao Bạch quả làm giảm thương tổn ốc tai ở chuột lang và có tác dụng tốt trên độ thấm mao mạch và vi tuần hoàn chung. Cải thiện chức năng về tiền đình và thính giác trên động vật gây thương tổn thực nghiệm.

Tác dụng đối kháng với yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PAF – platelet activation factor): Các hợp chất ginkgolid của cao bạch quả, đặc biệt ginkgolid B là chất đối kháng của PAF. Ginkgolid B có tác dụng ức chế mạnh sự giảm lượng tiểu cầu và co thắt phế quản gây bởi PAF ở chuột lang.

Tác dụng trị bệnh Alzheimer : có tác dụng ức chế acetylcholinesterase, một loại enzyme làm hủy hoại chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: